Thu hút giảng viên Việt kiều: Cần cơ chế linh hoạt
Lượt xem: 5Để thu hút chuyên gia, nhà khoa học người Việt Nam từ các cơ sở giáo dục trên thế giới về nước làm việc, ngoài cơ chế thu nhập, cần có tiêu chí linh hoạt về điều kiện làm việc, giao quyền, tạo môi trường chuyên nghiệp và trọng dụng người tài.

Giảng viên người nước ngoài giảng dạy tại Trường Đại học Việt Đức (TPHCM).
Vai trò dẫn dắt
Trong phiên thảo luận tại tổ Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI về Luật Phát triển đô thị, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Hoàng Minh Sơn đề cập cơ chế thu hút giảng viên từ nước ngoài về làm việc tại các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp ở TPHCM.
Việc thu hút chuyên gia giỏi nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, năng lực đào tạo và nghiên cứu. Để làm được điều này, TPHCM cần có chính sách đủ mạnh để thu hút nhân tài, giảng viên Việt kiều về làm việc tại các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp. Đại diện các cơ sở giáo dục đại học tại TPHCM ủng hộ ý kiến của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, đồng thời đề xuất những chính sách đặc biệt để thu hút chuyên gia, giảng viên Việt kiều.
ThS Luật sư Trịnh Hữu Chung - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Gia Định (TPHCM) nhận định, thu hút người Việt Nam đang làm việc, nghiên cứu ở nước ngoài, đặc biệt là chuyên gia, nhà khoa học, giảng viên tại các cơ sở giáo dục uy tín, về nước không chỉ bổ sung nhân lực chất lượng cao mà còn đưa tri thức, kinh nghiệm và mạng lưới quốc tế về Việt Nam.
Theo ông, đội ngũ này có thể đóng góp trực tiếp vào việc nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu. Họ được tiếp cận với phương pháp giảng dạy hiện đại, chương trình đào tạo tiên tiến và môi trường nghiên cứu quốc tế. Khi trở về, những kinh nghiệm đó có thể được chuyển hóa thành chương trình đào tạo, phương pháp quản trị và hoạt động nghiên cứu phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam.
Ngoài ra, sự tham gia của các chuyên gia Việt Nam từ nước ngoài góp phần quốc tế hóa môi trường giáo dục đại học. Họ không chỉ giảng dạy mà còn có thể kết nối các trường đại học trong nước với trường, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và tổ chức quốc tế đã có quá trình hợp tác. Đây là giá trị lớn, bởi trong bối cảnh giáo dục đại học hiện nay, năng lực kết nối, hợp tác quốc tế ngày càng quan trọng đối với chất lượng đào tạo.
ThS Trịnh Hữu Chung cho rằng, đội ngũ chuyên gia từ nước ngoài còn có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa đối với giảng viên trẻ. Kinh nghiệm nghiên cứu, tư duy học thuật, chuẩn mực nghề nghiệp và văn hóa làm việc quốc tế của họ tạo điều kiện để giảng viên trong nước học hỏi, trao đổi và cùng phát triển.
Đồng quan điểm, ThS Huỳnh Thúy Phương - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Quản lý và Công nghệ TPHCM cho biết, chuyên gia người Việt ở nước ngoài là nguồn lực giá trị đối với giáo dục đại học Việt Nam nói chung và TPHCM nói riêng. Những người có thời gian học tập, nghiên cứu, làm việc tại các cơ sở giáo dục uy tín trên thế giới có thể đóng góp trên nhiều phương diện, từ giảng dạy, nghiên cứu khoa học đến kết nối mạng lưới học thuật và hợp tác quốc tế.
Theo bà, giá trị quan trọng hơn là những góc nhìn, kinh nghiệm và chuẩn mực quốc tế mà họ mang về. Khi tham gia môi trường giáo dục trong nước, đội ngũ này có thể đưa phương pháp giảng dạy, nghiên cứu và cách tiếp cận mới vào nhà trường, đồng thời tạo điều kiện để giảng viên, sinh viên Việt Nam tiếp cận các xu hướng học thuật, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên thế giới.
Mạng lưới chuyên môn được xây dựng ở nước ngoài cũng có thể mở ra những kết nối mới cho các trường Việt Nam, từ hợp tác nghiên cứu, trao đổi học thuật đến triển khai chương trình đào tạo và dự án quốc tế. “Vì vậy, tôi cho rằng việc thu hút nguồn nhân lực này không nên chỉ được nhìn dưới góc độ bổ sung đội ngũ giảng viên, mà còn là cơ hội để nâng cao năng lực và thúc đẩy quá trình quốc tế hóa của các cơ sở giáo dục”, ThS Phương nói.

Chuyên gia nước ngoài tham quan phòng thực hành khối ngành sức khỏe tại Trường Đại học Gia Định.
Cần cơ chế đặc biệt
Theo các chuyên gia giáo dục, thu hút người tài cần chuyển từ tư duy “mời về làm việc” sang “tạo điều kiện để họ phát huy giá trị”.
ThS Trịnh Hữu Chung nhìn nhận, thu nhập cạnh tranh là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Chuyên gia có năng lực quốc tế không chỉ cân nhắc mức lương mà còn quan tâm đến môi trường học thuật, điều kiện nghiên cứu, quyền tự chủ chuyên môn, cơ hội phát triển nghề nghiệp và khả năng tạo ra những công trình có giá trị.
Do đó, cơ chế thu hút cần tổng thể, linh hoạt và đủ sức cạnh tranh với môi trường quốc tế. Theo ThS Chung, cơ sở giáo dục cần có mức lương, thù lao tương xứng với trình độ, đóng góp; đồng thời có chính sách hỗ trợ nghiên cứu, phòng thí nghiệm, dữ liệu và nguồn lực học thuật. Cùng với đó là cơ chế giao quyền, đánh giá dựa trên hiệu quả, sản phẩm thay vì đơn thuần dựa vào thời gian làm việc.
Thủ tục hành chính cũng cần được đơn giản hóa. Theo ông, chuyên gia có thể sẵn sàng trở về nếu được tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục làm việc, cư trú, nghiên cứu, hợp tác và các vấn đề liên quan đến gia đình.
“Việc thu hút chuyên gia cũng cần mở rộng các mô hình làm việc linh hoạt. Không nhất thiết chuyên gia phải chuyển hẳn về Việt Nam ngay từ đầu. Có thể có các hình thức như làm việc bán thời gian, giáo sư thỉnh giảng, chuyên gia theo dự án, đồng nghiên cứu, giảng dạy trực tuyến kết hợp trực tiếp hoặc hợp tác theo từng giai đoạn”, ThS Chung nói.

Sinh viên Trường Đại học Quản lý và Công nghệ TPHCM trong giờ học.
Quan trọng hơn, chính sách phải tạo cho họ cảm giác sự trở về được trân trọng và có không gian để đóng góp, chứ không chỉ là một quyết định tuyển dụng thông thường.
ThS Huỳnh Thúy Phương cho rằng cần có cơ chế linh hoạt về hình thức làm việc cho chuyên gia, bởi không phải ai ở nước ngoài cũng có thể ngay lập tức trở về Việt Nam làm việc toàn thời gian. Bên cạnh các vị trí dài hạn, cơ sở giáo dục có thể thiết kế những hình thức hợp tác đa dạng như làm việc bán thời gian, thỉnh giảng, tham gia dự án nghiên cứu theo từng giai đoạn hoặc cộng tác trong một khoảng thời gian nhất định.
Theo ThS Phương, cơ chế thu hút cũng cần đi cùng chính sách đãi ngộ cạnh tranh, công bố rõ ràng, minh bạch để chuyên gia có thể nhìn thấy cơ hội nghề nghiệp, điều kiện làm việc và lộ trình phát triển khi trở về Việt Nam.
“Một vấn đề khác là cần chủ động tạo ra các kênh kết nối giữa cơ sở giáo dục trong nước với cộng đồng chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài. Chẳng hạn, có thể tổ chức các diễn đàn, hội nghị kết nối nhân tài, hội chợ việc làm chuyên biệt hoặc mạng lưới học thuật, qua đó các trường đại học giới thiệu nhu cầu tuyển dụng, nghiên cứu và hợp tác của mình”, ThS Phương nói và cho biết, thay vì chỉ đặt vấn đề mời chuyên gia trở về, cần tạo ra nhiều cách để họ tham gia và đóng góp cho giáo dục Việt Nam. Khi hợp tác ban đầu hiệu quả và môi trường phù hợp, việc gắn bó lâu dài sẽ khả thi hơn.
ThS Trịnh Hữu Chung nhìn nhận, nhiều người Việt Nam ở nước ngoài mong muốn đóng góp cho quê hương. Tuy nhiên, để biến mong muốn đó thành hành động cụ thể, các cơ sở giáo dục, cơ quan quản lý cần xây dựng môi trường thuận lợi để họ thực sự đóng góp và nhìn thấy kết quả từ sự đóng góp ấy. Do đó, bài toán thu hút nhân tài không nên chỉ nhìn ở mức thu nhập mà cần đặt câu hỏi lớn hơn: tạo ra môi trường nào để người tài muốn trở về và muốn ở lại Việt Nam cống hiến.

